Page 179 - http://tvs.nlv.vn/trienlam
P. 179

THANH NIÊN TRUNG QUỐC                               177




                              Theo báo cáo cuối năm 1951, Đoàn Thanh niên dân chủ mới
                           Trung  Quốc  có:  242.000  chi  đoàn,  5.180.000  đoàn  viên  trong  đó
                           công  nhân  chiếm  34%,  nông  dân  52%,  học  sinh  11%,  các  hạng
                           khác 3%. Trong những cuộc vận động như chống Mỹ giúp Triều,

                           đàn áp phản động, cải cách ruộng đất, thanh niên đều xung phong.
                           Trong phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống
                           bệnh  quan  liêu,  chống  tham  ô  lãng  phí,  thanh  niên  đều  làm  kiểu
                           mẫu. Ở bộ đội, cơ quan, nhà máy, nông thôn, trường học, đoàn
                           viên đều thành phần tử trung kiên. Vài thí dụ:
                              Xích Kiến Tú, nữ thanh niên thợ dệt đã tìm ra cách dệt mới,
                           giảm được nguyên liệu mà sản xuất được gấp đôi. Ngày nay,
                           tất cả các nhà máy dệt Trung Quốc đều học cách dệt Xích Kiến
                           Tú. Tiểu tổ Lưu Quân Đình đào than giỏi nhất trong cả nước.
                           Việc đào kênh đắp đê sông Hoài, 40% dân công là thanh niên.
                           Hai chị thanh niên nông dân Cam Thái Hòa và Kim Tú Lan đã
                           thành Anh hùng Lao động hạng Nhất.
                              Ngoài việc tổ chức và săn sóc nhi đồng, mỗi đoàn viên phải
                           làm  một  công  tác  xã  hội  nhất  định.  Vì  vậy  mà  quan  hệ  giữa
                           Đoàn và nhân dân rất chặt chẽ.
                              C.B. đề nghị: Thanh niên Việt Nam ta nên ra sức thi đua với
                           thanh niên Trung Quốc.

                                                                            C.B.
                           Báo Nhân Dân, số 46,
                           ngày 21-2-1952, tr.2.
   174   175   176   177   178   179   180   181   182   183   184